(Chủ trì: luật sư Trần Tuấn Phong – Vilaf, Diễn giả: luật sư Trương Nhật Quang, YKVN; Phó giáo sư Tiến sĩ (PGS. TS.) Đỗ Văn Đại, Đại học Luật TP. HCM; Ông Fushihara Hirota, Juris doctor, Giám đốc Công ty tư vấn URYU&ITOGA Việt Nam)
Ông Hirota đã mở đầu phần trao đổi với bình luận về án lệ 04 liên quan đến tranh chấp về hợp đồng quyền sử dụng đất. Theo ông, vấn đề cốt lõi của án lệ này là việc tòa án áp dụng nguyên tắc thiện chí trung thực – một nguyên tắc chung quan trọng của luật tư để không xử lý vô hiệu đối với hợp đồng (trong khi hợp đồng có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu áp dụng các quy định cá biệt). Ông cho rằng trong bản án không thấy có tình tiết khách quan về sự tham gia của vợ trong quá trình đàm phán/ thương thảo/ giao kết hợp đồng liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản chung của vợ chồng mà chỉ có chồng giao kết hợp đồng. Những hành vi của vợ được mô tả trong phần nội dung án lệ đều tập trung vào thời gian sau khi hợp đồng được giao kết. Đồng thời, những hành vi này không hướng đến việc thể hiện ý chí khi giao kết hợp đồng, cũng không thể hiện ý chí chấp thuận việc chồng mình có quyền đại diện. Do đó, đây không phải trường hợp đồng ý mặc thị hay ngầm định, cũng không phải trường hợp thừa nhận quyền đại diện. Mặt khác, nếu coi đây là trường hợp đồng ý mặc thị hay ngầm định hoặc thừa nhận quyền đại diện, đồng nghĩa với việc phủ nhận tính cống hiến của án lệ (cũng là nguồn gốc dẫn đến sự ra đời của án lệ) vì các quy phạm này đã được quy định cụ thể và được giải thích rõ trong các giáo trình luật dân sự.

Trả lời câu hỏi của luật sư Trần Tuấn Phong liên quan đến giá trị của án lệ trong việc bổ sung các quy phạm pháp luật, cả ông Hirota và PGS. TS. Đỗ Văn Đại đều cho rằng án lệ có ý nghĩa cơ bản là làm rõ thêm và giải thích những quy phạm pháp lý vốn dĩ đang tồn tại trong pháp luật thành văn. Quá trình giải thích pháp luật này của án lệ sẽ làm phong phú thêm các quy định pháp luật của Việt Nam, từ đó pháp luật thành văn sẽ đáp ứng đầy đủ hơn cho nhu cầu của thực tiễn. Ông Đại cũng đặt ra một loạt câu hỏi về phạm vi áp dụng của án lệ trong tương lai, đặc biệt là cách hiểu các vụ việc tương tự như thế nào. Cụ thể, liệu án lệ 04 có được áp dụng đối với các hợp đồng chuyển nhượng tài sản chung nhưng không phải là tài sản chung của vợ chồng hay hợp đồng không phải là hợp đồng chuyển nhượng (như cầm cố thế chấp) đối với tài sản chung hay không?
Cũng đồng tình với quan điểm của hai diễn giả trước, luật sư Trương Nhật Quang cho rằng án lệ 04 bổ sung cách giải thích nguyên tắc thiện chí trung thực theo quy định của Bộ luật Dân sự và việc dùng án lệ để giải thích các nguyên tắc hoặc học thuyết pháp lý sẽ nâng cao vai trò của các án lệ. Ông cũng bổ sung thêm việc xem xét áp dụng lý thuyết về quyền đại diện bề ngoài tại Điều 142 và Điều 143 của Bộ luật Dân sự đối với quan hệ giữa vợ chồng khi định đoạt tài sản chung của vợ chồng dựa trên hành động của vợ sau ngày giao kết hợp đồng.
PGS. TS. Đỗ Văn Đại trình bày ngắn gọn về án lệ 08, liên quan đến hợp đồng vay tín dụng của ngân hàng và tính lãi. Án lệ này đề cập ba nội dung chính. Thứ nhất,về khoản tiền phát sinh lãi, lãi quá hạn chỉ tính trên tiền nợ gốc, khoản nợ lãi chưa trả không làm phát sinh lãi. Theo ông Đại, đây là quy định đã có trong Bộ luật Dân sự 2005 và Luật Thương mại, không nhất thiết phải nhắc lại trong án lệ này. Ông cũng lưu ý quy định này đã không còn phù hợp với Bộ luật Dân sự 2015 khi Bộ luật này quy định theo hướng hợp đồng vay sẽ tính lãi trên lãi chưa trả (lãi chồng lãi). Thứ hai, án lệ 08 đề cập đến mức lãi được tính theo thỏa thuận của các bên. Quy định này đã bổ sung thêm nội dung của Bộ luật Dân sự 2005 khi Bộ luật này chỉ quy định mức lãi được tính theo mức cơ bản của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, ông Đại cũng đặt ra vấn đề là mức lãi chậm trả này có bị giới hạn không?Án lệ chưa đưa ra được câu trả lời cho vấn đề này. Thứ ba, về tính liên tục của tính lãi, án lệ 08 quy định tòa án địa phương sẽ tính lãi lúc xét xử sơ thẩm và thi hành án. Quy định này cũng không khác gì so với các quy định trong Luật thương mại và Bộ luật dân sự 2005, tuy nhiên, nó có ý nghĩa nhất định, đó là nhằm chống lại thực tiễn xét xử không phù hợp với luật khi tòa án hiện vẫn đang áp dụng Thông tư 01/1997, theo đó việc tính lãi bị gián đoạn từ giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Một lần nữa, ông Đại lại đưa ra những băn khoăn về phạm vi áp dụng của án lệ. Ông kỳ vọng TANDTC sẽ mở rộng phạm vi áp dụng của án lệ này đối với các hợp đồng vay không phải tín dụng và khoản tiền không phải là khoản tiền vay trong tương lai. Luật sư Trương Nhật Quang và PGS. TS. Đỗ Văn Đại cũng dành thời gian bình luận về hiệu lực áp dụng của án lệ 08 khi Bộ luật Dân sự 2015 đã có hiệu lực pháp luật và một số nội dung của án lệ 08 không còn phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự 2015 cũng như các quy định hiện nay của luật ngân hàng, đặc biệt là các quy định về việc tính lãi trên nợ lãi quá hạn và phí quá hạn.
Án lệ 09 liên quan đến biện pháp khắc phục áp dụng khi hợp đồng thương mại bị vi phạm, bao gồm (i) việc hoàn tiền ứng trước và (ii) tính lãi quá hạn trên tiền ứng trước, tiền phạt vi phạm và tiền bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, án lệ 09 cũng liên quan đến việc xác định “lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường”. Luật sư Trương Nhật Quang cho rằng án lệ này đã bổ sung thêm cách giải thích Điều 306 của Luật Thương mại khi yêu cầu bên vi phạm hoàn tiền ứng trước và tính lãi quá hạn trên tiền ứng trước. Các kết luận của án lệ về việc hoàn tiền ứng trước và áp dụng lãi quá hạn với khoản tiền ứng trước rất hợp lý và logic. Tuy nhiên, theo luật sư Quang thì án lệ chưa làm rõ lãi quá hạn sẽ được áp dụng từ thời điểm nào (thời điểm ứng trước tiền, thời điểm có vi phạm hay thời điểm hai bên ra tòa) và nên được áp dụng từ thời điểm một bên đưa tiền cho bên kia.
Cuối cùng, luật sư Quang cũng nêu một số điểm chưa hợp lý của án lệ 09 đứng từ góc độ thực tế thị trường. Thứ nhất, việc không áp dụng lãi quá hạn đối với tiền phạt vi phạm và tiền bồi thường thiệt hại sẽ không khuyến khích bên vi phạm sớm thanh toán các khoản tiền trên. Thứ hai, kết luận của án lệ đối với việc sử dụng lãi suất quá hạn của ít nhất 3 ngân hàng tại địa phương để xác định “lãi suất quá hạn trung bình trên thị trường” không làm rõ (i) tiêu chí để áp dụng loại lãi suất quá hạn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, cho cá nhân, cho doanh nghiệp, v.v.), (ii) tiêu chí để chọn ngân hàng (tại địa phương của nguyên đơn, bị đơn, v.v.) và (iii) thời điểm để chọn lãi suất trong trường hợp vụ việc được xét xử sơ thẩm nhiều lần.