TÀI LIỆU HỘI THẢO
click here to DOWNLOAD
Với sự đồng tài trợ của Allen & Overy, LNT & Partners và YKVN, chiều ngày 26/5/2017, tại TP.HCM, Câu lạc bộ Luật sư Thương mại Quốc tế Việt Nam (VBLC) đã tổ chức thành công buổi hội thảo với chủ đề “Những điểm mới của Bộ luật Dân sự đối với hoạt động tín dụng ngân hàng và giao dịch bảo đảm”. Góp mặt tại hội thảo là sự tham gia của hơn 170 khách mời, gồm các luật sư, nhân viên pháp chế ngân hàng, giới chuyên gia trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, giảng viên trường luật.
Khai mạc buổi hội thảo, L.S Trần Anh Đức, Chủ nhiệm VBLC, luật sư thành viên Công ty luật TNHH Allen & Overy đã giới thiệu chung về hoạt động của VBLC. Theo đó, trong thời gian qua, VBLC đã tổ chức thành công nhiều buổi hội thảo liên quan đến nhiều vấn đề pháp lý. Trong bối cảnh Bộ luật Dân sự (BLDS) 2015 và nhiều văn bản pháp luật mới trong lĩnh vực ngân hàng có hiệu lực, đây là buổi hội thảo đầu tiên của VBLC về các hoạt động tín dụng ngân hàng và giao dịch bảo đảm. Với chủ đề trên, buổi hội thảo bao gồm hai phần chính:
- Phần 1: Những điểm mới của BLDS 2015 về biện pháp bảo đảm và ủy thác; Quy chế vay và tài sản bảo đảm trong vay vốn
(diễn giả: L.S Nguyễn Hồng Năng – Giám đốc pháp chế ANZ, L.S Trần Anh Đức – Luật sư thành viên Allen & Overy và L.S Lê Nết – Luật sư thành viên LNT & Partners).
- Phần 2: Lãi suất trong hoạt động ngân hàng
(diễn giả: L.S Trương Nhật Quang – Luật sư điều hành YKVN và L.S Lại Minh Thúy – Giám đốc pháp chế Citibank).

LS. Trần Anh Đức phát biểu khai mạc hội thảo
Mở đầu phần 1, L.S Lê Nết đã chia sẻ một số điểm mới về biện pháp bảo đảm và ủy thác quy định tại BLDS 2015, cụ thể: (i) tổng quan (trình bày khái niệm vật quyền – trái quyền và những tranh cãi liên quan, quyền tự do cam kết, thỏa thuận), (ii) hình thức của biện pháp bảo đảm, (iii) hiệu lực của biện pháp bảo đảm, (iv) nhóm biện pháp bảo đảm, (v) chấm dứt biện pháp bảo đảm, và (vi) xử lý tài sản bảo đảm. Theo đó, các biện pháp bảo đảm có thể được chia thành hai nhóm chính: biện pháp bảo đảm bằng tài sản và biện pháp bảo đảm không bằng tài sản. L.S Lê Nết cho rằng vấn đề xác định thứ tự ưu tiên thanh toán và quyền truy đòi dường như chỉ đặt ra đối với các biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Ông còn nhấn mạnh việc đăng ký giao dịch bảo đảm theo BLDS 2015 là quyền chứ không còn là nghĩa vụ. Song trên thực tế, để đảm bảo hiệu lực đối kháng với bên thứ ba thì biện pháp bảo đảm cần phải được đăng ký. L.S Lê Nết tiếp tục trình bày những quy định về việc xác định hiệu lực của biện pháp bảo đảm giữa các bên và bên thứ ba, việc xử lý tài sản bảo đảm (đặc biệt thủ tục rút gọn), đồng thời đưa ra một số lưu ý khác liên quan đến biện pháp bảo đảm như quyền nhận thế chấp quyền sử dụng đất của chi nhánh ngân hàng nước ngoài, quyền hưởng dụng và ủy thác và quyền tự định đoạt tài sản bảo đảm mà không có thỏa thuận trước, v.v.

LS Lê Nết, Thành viên Ban Chủ nhiệm VBLC, Công ty luật LNT&Partners
Sau phần trình bày của L.S Lê Nết, L.S Nguyễn Hồng Năng tiếp tục trình bày một số điểm mới trong quy chế cho vay theo quy định của Thông tư 39/2016/TT-NHNN (TT 39). Trong đó, ông nhấn mạnh một số điểm mới quan trọng về phí (đặc biệt là phí cam kết rút vốn), thứ tự thanh toán giữa nợ gốc và lãi trong trường hợp khoản vay quá hạn, việc cơ cấu lại khoản nợ và chuyển nợ quá hạn, và một số vấn đề khác liên quan đến hợp đồng mẫu và phương thức cho vay. Liên quan đến vấn đề cho vay hợp vốn, L.S Năng cho rằng về mặt lý thuyết, hiện nay vẫn chưa có đủ cơ sở để khẳng định Thông tư 42/2011/TT-NHNN (được sửa đổi bởi Thông tư 24/2016/TT-NHNN) (TT 42) có áp dụng đối với các khoản vay hợp vốn mà bên cho vay chỉ bao gồm các tổ chức tín dụng ngoài lãnh thổ Việt Nam hay không. Để làm rõ hơn điểm này, L.S Trần Anh Đức đã chia sẻ thêm rằng trên thực tế, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về mặt chính sách, chấp nhận TT 42 không áp dụng đối với trường hợp cấp tín dụng hợp vốn bởi các ngân hàng ở ngoài lãnh thổ Việt Nam mặc dù vấn đề này vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể.

LS. Nguyễn Hồng Năng, Giám đốc pháp chế ANZ Việt Nam
Cũng tại phần trình bày của mình, L.S Năng cũng đã đặt ra một vấn đề pháp lý thú vị về trường hợp tài sản bảo đảm là cổ phần/cổ phiếu thì biện pháp bảo đảm nào được áp dụng (cầm cố hay thế chấp)? Theo ông, nếu dựa vào định nghĩa về “cầm cố” và “thế chấp” quy định tại BLDS 2015 thì dường như vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng. Cuối cùng, L.S Năng trình bày thêm một số lưu ý liên quan đến một số tài sản bảo đảm đặc biệt (như hàng hóa luân chuyển trong sản xuất, kinh doanh; quyền đòi nợ; và cổ phiếu/vốn góp); bảo lãnh (điều khoản “pay and walk” trong các bảo lãnh ngân hàng); vấn đề bù trừ nghĩa vụ và xử lý tài sản bảo đảm. Liên quan đến vấn đề xử lý tài sản bảo đảm, L.S Trần Anh Đức chia sẻ và đặt vấn đề liệu việc xử lý tài sản bảo đảm có cần phải có bản án của Tòa án hay không? Theo L.S Đức, có cơ sở pháp lý để tin rằng việc xử lý tài sản bảo đảm có thể được thực hiện mà không cần bản án của Tòa án nhưng điều này là không khả thi trên thực tế. Đặc biệt là khi BLDS 2015 không còn cho phép các ngân hàng tự thu giữ tài sản. Cuối cùng, L.S Trần Anh Đức cũng chia sẻ thêm một số vấn đề liên quan đến mua bán nợ và xử lý nợ xấu được quy định tại Thông tư 09/2015/TT-NHNN và dự thảo Nghị quyết của Quốc Hội về xử lý nợ xấu.
Tại phần 2 liên quan đến lãi suất trong hoạt động ngân hàng, L.S Trương Nhật Quang và L.S Lại Minh Thúy đã chia sẻ các nội dung chính về khung pháp lý, các khoản tiền được thỏa thuận trong hợp đồng, trần lãi suất áp dụng, thời hạn tính lãi, và trình tự thanh toán.
Theo L.S Trương Nhật Quang, tại thời điểm hiện nay, vấn đề về lãi suất có thể được điều chỉnh bởi BLDS 2015, Luật các tổ chức tín dụng 2010, TT 39, Thông tư 43/2016/TT-NHNN về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính và các văn bản hướng dẫn của NHNN, án lệ 08, án lệ 09 và các hướng dẫn của Tòa án Nhân dân tối cao (TANDTC). Liên quan đến mối quan hệ giữa các nguồn trên, L.S Quang cũng chia sẻ thêm: có lẽ ý định của ban soạn thảo BLDS 2015 là mức trần lãi suất trong BLDS 2015 (20%/năm) sẽ được áp dụng chung cho cả hợp đồng vay dân sự và hợp đồng vay tín dụng (trừ hai trường hợp ngoại lệ: do luật khác có quy định khác hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức trần lãi suất) nhằm bảo vệ bên đi vay (bên yếu thế). Tuy nhiên, theo các hướng dẫn gần đây của NHNN (Công văn số 1576/NHNN-CSTT) và TANDTC (Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC), hợp đồng vay tín dụng không chịu mức trần lãi suất quy định tại BLDS 2015. Dường như cả NHNN và TANDTC đã thống nhất quan điểm rằng pháp luật ngân hàng là luật chuyên ngành và được ưu tiên áp dụng. Dù vậy, vấn đề này vẫn chưa được hướng dẫn hay quy định một cách chính thức tại bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật.

Liên quan đến các khoản tiền được thỏa thuận trong hợp đồng, theo L.S Quang, thông thường có ba khoản thanh toán được quy định trong hợp đồng, gồm nợ gốc, lãi và các khoản thanh toán khác (như phí, bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm). L.S Quang cho rằng TT 39 lần đầu tiên quy định rõ ràng về việc các tổ chức tín dụng có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại và phạt vi phạm. Đối với các khoản phí cam kết rút vốn, L.S Lại Minh Thúy chia sẻ thêm trước đây trong hợp đồng vay tín dụng trung và dài hạn, loại phí này sẽ tính theo mức độ giảm dần của hạn mức mà ngân hàng cấp cho khách hàng. Tuy nhiên, theo TT 39, phí cam kết rút vốn chỉ được tính từ thời điểm thỏa thuận cho vay có hiệu lực đến ngày giải ngân vốn vay lần đầu. Ngoài ra, bà Thúy cũng đưa ra một số khoản phí khác (như phí thẩm định cho vay hợp vốn, thù lao cho đầu mối thanh toán, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm) dù chưa được quy định tại bất kỳ văn bản nào nhưng trên thực tế các ngân hàng vẫn thu.
Về mức trần lãi suất áp dụng đối với các khoản tiền được thỏa thuận trong hợp đồng, L.S Quang đã khái quát như sau: (i) lãi suất trong hạn (đối với hợp đồng tín dụng theo quy định của luật ngân hàng) không chịu mức trần lãi suất (trừ một số trường hợp nhất định); (ii) lãi suất đối với nợ gốc quá hạn tối đa là 150% lãi suất trong hạn, đặc biệt có thể điều chỉnh theo từng thời kỳ và thời gian tính lãi liên tục (theo án lệ 08); (iii) lãi đối với lãi quá hạn tối đa là 10%/năm; và (iv) lãi đối với các khoản thanh toán khác quá hạn không được quy định tại TT 39 nhưng có thể áp dụng Điều 357 của BLDS 2015 để tính lãi chậm trả. Đặc biệt, L.S Quang cũng lưu ý thêm rằng án lệ 09 đã đưa ra nguyên tắc không áp dụng lãi chậm trả trên tiền bồi thường thiệt hại và tiền phạt vi phạm. Theo ông, án lệ 09 có thể tạo ra sức ép đáng kể cho phía ngân hàng khi không có cơ chế khiến cho bên vay “rốt ráo” thanh toán các khoản này. Với kinh nghiệm thực tế, bà Thúy chia sẻ thêm quy định về việc không cho phép nhập lãi vào gốc để tính lãi quá hạn trong TT 39 sẽ dễ dàng đối với khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp. Tuy nhiên đối với khoản vay tiêu dùng, các khoản này thường có giá trị nhỏ và số lượng khoản vay nhiều nên với quy định mới của TT 39, nhiều ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc điều chỉnh lại cách thức tính lãi đối với các khoản vay tiêu dùng.

Liên quan đến thời hạn tính lãi, đây cũng là một điểm mới quan trọng được quy định tại TT 39. Theo đó, lãi trong hợp đồng vay tín dụng sẽ được tính từ ngày tiếp theo sau ngày giải ngân thay vì được tính từ ngày giải ngân. Đặc biệt số ngày tính lãi trong năm sẽ là 365 ngày. Cuối cùng, L.S Quang còn nhấn mạnh thêm vấn đề trình tự thanh toán giữa nợ gốc, lãi và các khoản thanh toán khác. Theo ông, khi không có vi phạm và bên vay trả nợ đúng hạn thì trình tự thanh toán sẽ phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên; khi có vi phạm và bên vay trả nợ không đúng hạn thì nợ gốc thu trước, nợ lãi tiền vay thu sau, tuy nhiên trình tự thanh toán áp dụng đối với các khoản thanh toán khác thì pháp luật vẫn chưa quy định rõ ràng.
Sau phần trình bày của các diễn giả, hội thảo đã dành 60 phút cuối cùng để khách mời đặt câu hỏi và trao đổi thêm các nội dung khác liên quan đến các giao dịch ngân hàng như thế chấp hay cầm cố bằng tài sản của bên thứ ba, đại lý nhận tài sản bảo đảm hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhận thế chấp quyền sử dụng đất, v.v.



Hội thảo kết thúc lúc 17g50 cùng ngày mặc dù còn nhiều cánh tay giơ lên đề nghị được tiếp tục trao đổi. Phát biểu bế mạc hội thảo, L.S Trần Anh Đức gửi lời cảm ơn đến các vị đại biểu, các luật sư đồng nghiệp đã tham gia rất nhiệt tình trong cuộc hội thảo, đồng thời khẳng định VBLC sẽ tiếp tục là cầu nối để tập hợp ý kiến của các chuyên gia, luật sư và tạo môi trường để mọi người có thể trao đổi kinh nghiệm, quan điểm giúp cho Tòa án thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới./.
Một vài hình ảnh hội thảo:



