Mở đầu buổi hội thảo, LS. Trần Tuấn Phong, Chủ nhiệm VBLC đã giới thiệu vắn tắt tình hình và ý nghĩa của việc áp dụng án lệ ở Việt Nam, đồng thời nêu lên những vướng mắc, khó khăn trong việc áp dụng án lệ vào thực tiễn của cơ quan xét xử và những người hành nghề luật. Tiếp nối phần phát biểu của LS. Trần Tuấn Phong, LS. Phan Trung Hoài đã giới thiệu tổng quan lịch sử ra đời và xây dựng hệ thống án lệ tại Việt Nam. Có thể thấy, tư tưởng sử dụng án lệ đã xuất hiện cách đây 20 năm nhưng tại thời điểm đó vẫn chưa có bất kỳ văn bản nào chính thức ghi nhận việc áp dụng án lệ. Đến khi Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” ra đời thì tư tưởng áp dụng án lệ vào xét xử mới được đề cập rõ ràng và cụ thể. Theo ông, năm 2014 là một “mốc son” quan trọng đối với án lệ tại Việt Nam khi Luật Phá sản năm 2014 và Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 đã chính thức đề cập án lệ trong quá trình xét xử và giải quyết các vụ việc của Tòa án. Đặc biệt hơn, Bộ luật dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã ghi nhận vai trò của án lệ và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP hướng dẫn lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ. Cuối cùng, LS. Phan Trung Hoài khẳng định những khó khăn nhất định trong việc xây dựng hệ thống án lệ và cơ hội, vai trò của người hành nghề luật sư tham gia đề xuất, đóng góp nhằm hoàn thiện, phát triển hệ thống án lệ tại Việt Nam.

Tại buổi hội thảo, LS. Nguyễn Hưng Quang, thành viên Ban Chủ nhiệm VBLC, NHQuang&Associates đã giới thiệu chung một số vấn đề về án lệ tại Việt Nam. Cụ thể là, nhu cầu của thẩm phán đối với việc nghiên cứu, tham khảo các bản án đã có hiệu lực pháp luật của những vụ án được xét xử trước đó trong những năm vừa qua khá cao. Đồng thời, khẳng định án lệ đóng vai trò nhất định trong các nguyên tắc xét xử và giải quyết vụ việc dân sự, hành chính. Đối với việc giải thích hợp đồng, án lệ cũng có sự ràng buộc nhất định. Theo LS. Nguyễn Hưng Quang, trong trường hợp điều khoản của hợp đồng chưa rõ ràng thì căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015 thì việc giải thích hợp đồng sẽ theo trình tự như sau: (i) quy phạm pháp luật, (ii) nguyên tắc cơ bản của BLDS, (iii) áp dụng tương tự pháp luật, (iv) án lệ, và (v) lẽ công bằng. Bên cạnh đó, ông cũng đặt câu hỏi liệu án lệ tại Việt Nam sẽ đóng vai trò hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử hay bổ sung, bù đắp lỗ hổng của pháp luật?

Tại phần tiếp theo, LS. Lê Nết, Công ty Luật LNT&Partners chủ trì phần thảo luận về các án lệ cùng với các diễn giả là ông Fushihara Hirota – Juris Doctor, Công ty tư vấn URYU & ITOGA Việt Nam, LS. Nguyễn Minh Huyền, Công ty luật TNHH Luật Việt, PGS.TS. Đỗ Văn Đại, trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, LS. Trương Nhật Quang, Công ty Luật TNHH YKVN. Các diễn giả và khách mời đã cùng trao đổi và phân tích các vấn đề liên quan đến các án lệ số 04/2016/AL, số 08/2016/AL và số 09/2016/AL. Luật sư Lê Nết đã trình bày và giới thiệu khái quát về các án lệ hiện nay, lý do lựa chọn ba án lệ để cùng phân tích, giới thiệu những phần chính của mỗi án lệ, cụ thể là các tình tiết sự kiện và thông tin của vụ án được nêu tại phần tình huống án lệ và giải pháp pháp lý.
Đối với án lệ số 04/2016/AL về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, ông Fushihara Hirota đã nêu bật giá trị của án lệ nói chung ở chỗ là Án lệ phải có những nhận định mới về cách giải thích pháp luật thực định mà thực tiễn chưa từng luận bàn đến, và giá trị pháp lý mới của án lệ 04/2016/AL là sự thể hiện mang tính tiền lệ của HĐTP khi áp dụng thực chất nguyên tắc chung của pháp luật để đưa ra một kết luận khác với hệ quả pháp lý khi áp dụng quy phạm cá biệt. Đồng thời, Án lệ này đã chỉ ra những hoàn cảnh, tình tiết nào nên được xem xét để áp dụng nguyên tắc thiện chí trung thực, trong đó, không chỉ xem xét đến tình hình hoàn cảnh chủ quan của một bên, mà phải xem xét cả tình hình khách quan liên quan đến thiệt hại và những bất lợi mà các bên phải gánh.
Vì thế, Ông Hirota cho rằng Án lệ 04 không phải là đã đề cao nguyên tắc đồng thuận trong giao kết hợp đồng. Án lệ này không có bất kỳ sự miêu tả nào cho thấy bà Phấn đã trực tiếp hoặc thông qua ông Ngự để có bất kỳ sự thể hiện ý chí nào về việc đưa ra hay tiếp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng và nhận về hay chấp thuận đề nghị đó. Trong giai đoạn xác lập Hợp đồng không hề có sự tham gia (đồng ý) về thực chất của bà Phấn. Sau khi Hợp đồng được thực hiện, bà Phấn đã có và chỉ có những hành vi phù hợp với hậu quả pháp lý của Hợp đồng. Khi xét về tính khả thi thực chất hay tính quy phạm, những hành vi này không thể trở về quá khứ và biến thành sự thể hiện ý chí của bà Phấn khi giao kết Hợp đồng.

Đối với án lệ số 08/2016/AL liên quan đến việc tính lãi đối với hợp đồng tín dụng, LS. Nguyễn Minh Huyền, đã trình bày sơ lược về nội dung án lệ và giải pháp pháp lý. Theo bà Huyền, án lệ số 08/2016/AL đã mang lại ba (03) điểm tích cực: một là, án lệ đã khẳng định thời gian tính lãi đối với khoản nợ gốc chậm trả là liên tục, không bị gián đoạn giữa các giai đoạn xét xử; hai là, Tòa án đã tôn trọng lãi suất do các bên thỏa thuận thay vì áp dụng mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố được quy định tại khoản 5 Điều 474 BLDS 2005; ba là, không áp dụng tính lãi quá hạn trên tiền lãi chưa thanh toán. Đồng thời, đa số ý kiến cho rằng án lệ số 08/2016/AL sẽ có vai trò thống nhất cách xác định khoảng thời gian áp dụng lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán của Tòa án, đồng thời thay đổi thói quen của Tòa án về việc áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố khi người phải thi hành án chậm thi hành án và quan trọng hơn, phạm vi áp dụng của án lệ này được kì vọng sẽ còn mở rộng đối với cả hợp đồng vay tài sản dân sự chứ không chỉ giới hạn trong phạm vi hợp đồng tín dụng.

Đối với án lệ số 09/2016/AL liên quan đến việc xác định áp dụng lãi suất chậm trả đối với các khoản tiền ứng trước, khoản tiền phạt và khoản tiền bồi thường thiệt hại, PGS.TS. Đỗ Văn Đại đã tóm tắt những nội dung quan trọng của án lệ và trình bày quan điểm cá nhân đối với từng quyết định của Tòa án. Theo PGS.TS Đỗ Văn Đại, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 chỉ quy định trong trường hợp “bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó

Để hoàn thiện và nâng cao khả năng áp dụng án lệ vào thực tiễn, tại phần hai của hội thảo, mọi người đã cùng nhau trao đổi và đưa ra một số đề xuất áp dụng án lệ trong việc hành nghề luật tại Việt Nam. LS. Trương Nhật Quang chủ trì phần thảo luận đã trình bày yêu cầu áp dụng án lệ trong hành nghề luật sư. Ông cho rằng, án lệ là một phần kiến thức chuyên môn khi hành nghề mà luật sư phải nắm bắt, vận dụng trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý và án lệ giúp luật sư và khách hàng cân nhắc các vấn đề pháp lý, rủi ro, đưa ra quyết định trong các vụ việc tư vấn. Do đó, luật sư có thể phải chịu trách nhiệm pháp lý nếu không hiểu biết và vận dụng án lệ khi hành nghề. LS. Trương Nhật Quang cũng trình bày các nguyên tắc áp dụng án lệ, các trường hợp không áp dụng án lệ, những vấn đề còn tồn tại trong các án lệ và cách đọc án lệ phù hợp. Cuối cùng, dựa trên những điểm còn hạn chế trong việc xây dựng hệ thống án lệ, ông đã đưa ra cách tiếp cận mới về việc xây dựng và trình bày bản án, quyết định của toàn án theo tiêu chí án lệ được quy định trong Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC để phát triển hệ thống bản án, làm cơ sở lựa chọn án lệ, đồng thời khẳng định vai trò của các chuyên gia, nhà nghiên cứu và luật sư hành nghề trong việc góp ý, tư vấn án lệ.

Hội thảo đã dành 20 phút cuối cùng để mọi người đặt câu hỏi và trao đổi thêm các nội dung khác trong buổi hội thảo nhưng cuối cùng đã bị kéo dài do có nhiều trao đổi, tranh luận. Trong phần này, ông Lê Thế Phúc, Trưởng phòng Án lệ, TANDTC đã thẳng thắn giải đáp một số thắc mắc liên quan đến Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP trên đây và chia sẻ những khó khăn gặp phải trong quá trình lựa chọn bản án và xây dựng án lệ mẫu. Ông Phúc cũng bày tỏ do 10 án lệ công bố trong thời gian qua là 10 án lệ đầu tiên ở Việt Nam nên vẫn chưa hoàn thiện. Chính vì thế mà phía Tòa án nhân dân tối cao luôn sẵn sàng huy động, tiếp nhận đóng góp ý kiến và đề xuất từ những người hành nghề luật, các chuyên gia nghiên cứu án lệ, giảng viên trường luật và cá nhân, tổ chức khác nhằm hoàn thiện mẫu án lệ và nâng cao chất lượng hệ thống án lệ Việt Nam nói chung và chất lượng xét xử của Tòa án nói riêng.
Hội thảo kết thúc lúc 18g00 cùng ngày mặc dù còn nhiều cánh tay giơ lên đề nghị được tiếp tục trao đổi. Phát biểu bế mạc hội thảo, LS Trần Tuấn Phong – Chủ nhiệm Câu lạc bộ Luật sư Thương mại Quốc tế Việt Nam gửi lời cảm ơn đến các vị đại biểu, các luật sư đồng nghiệp đã tham gia rất nhiệt tình trong cuộc hội thảo, đồng thời khẳng định Câu lạc bộ sẽ tiếp tục là cầu nối để tập hợp ý kiến của các chuyên gia, luật sư, giúp cho Tòa án thực hiện tốt hơn nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng như góp phần tích cực vào việc xây dựng, củng cố Nhà nước pháp quyền trong giai đoạn mới./.
Thanh Tâm